Cảnh Báo Tình Trạng Tự Học Của Sinh Viên Việt Nam Hiện Nay

Hiện nay đa số các trường đại học tại Việt Nam đang thực hiện đào tạo theo hình thức học tín chỉ. Đào tạo theo hình thức tín chỉ là phương pháp đào tạo có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống. Với hình thức đào tạo này, sinh viên phải tự học rất nhiều. Tuy có nhiều ưu thế nhưng Cộng đồng khởi nghiệp xin được cảnh báo tình trạng tự học của sinh viên Việt Nam.

Theo hình thức tín chỉ thì sinh viên là trung tâm, ngoài kiến thức giảng viên truyền đạt trên lớp thì sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu thêm tài liệu. Việc tự học của sinh viên giữ vai trò rất quan trọng, nó là nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học. Bên cạnh đó tự học còn góp phần nâng cao hoạt động trí tuệ của sinh viên trong việc tiếp thu và hiểu tri thức mới, rèn luyện cho sinh viên có cách độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết các vấn đề khó khăn trong quá trình học, giúp sinh viên tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống của mình, và thúc đẩy sinh viên lòng ham học, ham hiểu biết, vươn tới đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, có ước mơ.

Nhận thức của sinh viên về vấn đề tự học theo hệ thống tín chỉ

Tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học đại học của sinh viên. Tự học nhằm phát huy tính tự giác học và nghiên cứu. Việc tự học đối với sinh viên có vai trò hết sức quan trọng vì qua đó góp phần giúp cho sinh viên rèn luyện khả năng tư duy và sáng tạo của cá nhân. Hầu hết sinh viên đều nhận thức rằng vấn đề tự học là quan trọng khi áp dụng theo học chế tín chỉ (83%), tuy nhiên việc tự học này đồng nghĩa với hình thức học cá nhân (62,1%), không phụ thuộc vào người khác và không cần sự cộng tác của bạn bè. Sinh viên cho rằng đây là yêu cầu thối thiểu của một sinh viên. Ngoài ra phải giao lưu học hỏi ở các bạn khác ngành, các lớp đàn anh để nâng cao trình độ và nắm bài tốt hơn. Học theo chương trình tín chỉ hóa nên việc tự học là rất quan trọng, tuy nhiên để nhằm bổ sung thêm kiến thức sinh viên thường tạo ra những nhóm học để các bạn dễ dàng trao đổi kiến thức và giúp đỡ nhau trong học tập. Có lớp cho rằng việc tự học có nghĩa là học theo nhóm (61,3%). Sinh viên cho rằng tự học theo nhóm mang lại hiệu quả cao nhưng cũng có ý kiến cho rằng vào học chỉ lo trò chuyện, cười giỡn không thể tiếp thu được nhiều nên hiệu quả kém. Theo ý kiến của một số sinh viên muốn học nhóm có hiệu quả cao thì cần tuân thủ một số điều quan trọng như không nói chuyện, đùa giỡn trong khi học, phải có một trưởng nhóm có kiến thức vững và biết cách truyền tải lượng kiến thức đó một cách hiệu quả nhất, biết điều tiết “nhiệt độ” học và biết phân bố thời gian học hợp lý và sinh động để các thành viên học không bị chán.

Thời gian dành cho tự học là trên 2 giờ/ngày (57,8%). Đây là con số khá lý tưởng nếu như thực tế diễn ra như vậy.

Phân tích về vai trò quan trọng của Trung tâm học liệu Trường và Thư viện Khoa Thủy sản, qua thống kê cho thấy phần đông sinh viên rất ít đến những nơi này để học hỏi (tỉ lệ lần lượt là 68,2%52,9%). Tự học ở nhà riêng là giải pháp được ưa chuộng hiện nay của sinh viên (51,6%), trong khi số sinh viên đến trường học ở Thư viện là 18,2% và học bất cứ ở phòng trống của các nhà học là 30,2%.

Khi tự học sinh viên có thể chủ động được quỹ thời gian mà không bị ràng buộc, có thể học bất cứ lúc nào. Từ đó giúp sinh viên nắm kiến thức vững chắc và có thể hiểu sâu và nhớ kỹ hơn các vấn đề (tự học nên nhớ lâu hơn). Ngoài ra, việc tự học còn nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác làm việc theo nhóm, khi đó sinh viên có thể thể hiện tính sáng tạo trong tư duy và linh hoạt nhạy bén trong suy nghĩ, điều quan trọng hơn hết là sinh viên có thể đi sâu hơn so với thực tế nhằm rèn luyện kỹ năng phân tích tình hình và đưa ra quyết định, đây là một yếu tố cần và đủ để sau này khi rời khỏi ghế nhà trường sinh viên sẽ không bỡ ngỡ khi làm việc ở môi trường thực tế. Việc tự học giúp cho sinh viên có thể tiếp thu tốt bài giảng trên lớp hay củng cố lại các kiến thức đã học, mở mang thêm nhiều kiến thức mới qua sách vở và mạng Internet phục vụ cho chuyên ngành nghiên cứu, nâng cao kỹ năng làm việc nhóm, tạo môi trường học tập tiến bộ và tiên tiến….

Những hạn chế của việc tự học

Theo ý kiến của sinh viên thì một trong những nguyên nhân khó thực hiện việc tự học là do phải học quá nhiều môn học trong một học kỳ, đặc biệt là những sinh viên có tham gia học ngành 2 đã đăng ký tối đa số tín chỉ trong một học kỳ (25 tín chỉ). Do đó sinh viên không còn thời gian cho việc tự học.

Bàn về giải pháp để bắt buộc sinh viên tham gia tự học, số liệu khảo sát cho thấy có 50,7% cho là giáo viên nên dạy theo chuyên đề và buộc sinh viên phải làm seminar theo nhóm ở các buổi lên lớp; có 32,7% đề nghị giáo viên nên khuyến khích sinh viên tự học là chính. Số liệu phân tích trên cho thấy nếu dạy theo chuyên đề thì giáo viên phải chọn cách dạy sao cho phù hợp (dạy theo chuyên đề, dạy theo tình huống, dạy theo block….) và sinh viên phải đầu tư nhiều vào nội dung môn học để làm seminar. Thực tế cho thấy, thời gian trước đây sinh viên học theo hệ niên chế, giáo viên môn học nào cũng yêu cầu sinh viên làm seminar theo dạng chuyên đề, mất khá nhiều thời gian. Vấn đề này còn nhiều tranh cãi và không đồng tình về phía sinh viên do quá tải về đầu tư công sức cùng lúc cho nhiều môn học khác nhau.

Theo ý kiến của sinh viên đề xuất với Khoa nên tổ chức định kỳ hàng năm hội thảo về vấn đề tự học theo học chế tín chỉ, qua đó giúp cho sinh viên luôn ý thức về tầm quan trọng của việc tự học và tìm ra giải pháp mới áp dụng cho phương pháp tự học. Theo số liệu khảo sát thì đa số sinh viên cho rằng việc xác lập phương pháp học tập theo hình thức tự học là rất quan trọng, việc này quyết định thành công cho việc học theo hệ thống tín chỉ (56,7%).

Qua phân tích thực trạng việc tự học của sinh viên cho thấy còn khá nhiều điều phải bàn để cải thiện việc tự học của sinh viên. Những trở ngại chính sinh viên cần phải khắc phục trong quá trình học tập:

– Khó khăn đầu tiên là thời gian. Theo qui chế của nhà trường, trong 1 học kì sinh viên có thể đăng kí tối đa 20 tín chỉ. Điều này đồng nghĩa với việc mỗi tuần sinh viên phải tham gia 20 tiết học trên lớp, cộng với 40 tiết tự học thì tổng tiết học trong một tuần mà sinh viên phải học là 60 tiết. Trong khi đó, 1 tuần chỉ có 54 tiết (theo thời khóa biểu, 1 ngày có 9 tiết, 1 tuần có 6 ngày học nên số tiết trong 1 tuần là 9 x 6 = 54). Thời gian buổi tối hầu như là dành cho việc học Anh văn hoặc Tin học. Kết quả của phép tính là: sinh viên phải dành 60 tiết cho việc học trong khi chỉ có 54 tiết trong 1 tuần!

Thời gian là một cản trở  cho việc tự học của sinh viên
Thời gian là một cản trở cho việc tự học của sinh viên

– Chỉ học những gì giáo viên nêu ở lớp, nếu giáo viên tóm tắt vấn đề thì sinh viên mới nắm được, đây là kiểu học ở bậc phổ thông, mang tính từ chương.

– Chưa nắm được phương pháp tự học và cách học ở bậc đại học, nhất là bước chuẩn bị nội dung ở nhà cho lần lên lớp kế tiếp. Thật ra lần lên lớp kế tiếp cách nhau 1 tuần , không thể nói là không có thời gian chuẩn bị cho 1 môn học!

– Một trở ngại lớn nữa là vấn đề mưu sinh, sinh viên gặp phải điều kiện kinh tế khó khăn, phải đi làm thêm, đôi khi không dự lớp và không có thời gian tự học, vì thế chất lượng học tập kém và không theo nổi việc học.

– Vấn đề ngoại ngữ là một trở ngại lớn đối với việc sinh viên tự học. Khi đã bước sang năm thứ 2 và 3, tất yếu là sinh viên cần phải đọc thêm nhiều tài liệu chuyên môn, đa phần là sách nước ngoài, tài liệu tiếng Việt không nhiều, vì thế sinh viên không thể tích lũy kiến thức chuyên ngành theo kiểu tự học qua sách, tài liệu chuyên môn ngoại ngữ.

Ngoại ngữ luôn luôn là vấn đề nan giải
Ngoại ngữ luôn luôn là vấn đề nan giải

– Vấn đề học ngành 2 là một trở ngại trong việc tự học vì phải mất khá nhiều thời gian cho việc học trên lớp, sinh viên phải tự giải quyết việc trùng lịch học lý thuyết hoặc lịch thực hành do đăng ký quá nhiều môn học trong cùng một học kỳ. Việc này thường là do ý thích của sinh viên, mặc dù được Cố vấn học tập phân tích và hướng dẫn kỹ lưỡng, nhưng sinh viên vẫn mắc phải.

– Việc học nhóm gặp nhiều khó khăn do thời khóa biểu khác nhau.

– Không có phòng cho sinh viên tự học đặc biệt là học nhóm.

– Làm việc nhóm: đôi khi còn đùn đẩy cho nhau, chưa phát huy hết tính tự giác trong học tập.

– Tính thụ động của sinh viên, lười đọc sách, ôn bài ở nhà , chỉ đợi đến giờ lên lớp là vào học, không đầu tư kiến thức chuyên môn mặc dù đã có trang bị giáo trình, bài giảng sẵn có trong tay.

Để tự học tốt hơn, hãy đọc nhiều sách!
Để tự học tốt hơn, hãy đọc nhiều sách!

Giải pháp cho tình trạng tự học của sinh viên hiện nay

– Cần nâng cao tính tự học, giải thích rõ môi trường học tập ở bậc đại học khác xa với môi trường học tập ở bậc phổ thông trung học. Rèn luyện phương pháp tự học phải trở thành một mục tiêu học tập của sinh viên. Vai trò quan trọng ở đây là của Cố vấn học tập, của đoàn thể, của nhà trường và cũng cần nhấn mạnh việc giáo dục của gia đình.

– Về khối lượng kiến thức học tập ở bậc đại học nhiều hơn so với ở bậc học phổ thông (ở bậc phổ thông tính ra chỉ bằng nửa học kỳ ở bậc đại học). Chính vì thế sinh viên không tập luyện tính tự học thì không thể giải quyết một khối lượng lớn trong học kỳ. Ngoài ra khi sinh viên muốn học thêm ngành 2 cùng lúc thì phải cân nhắc xem có đủ khả năng học lực, về thời gian học tập, tình hình tài chính,… Liên quan đến công tác này không thể nhắc đến vai trò của Cố vấn học tập trong việc phân tích có nên học ngành 2 cùng lúc hoặc tiến hành học ngành 2 ở năm nào là hợp lý trong quá trình học tập ở bậc đại học.

– Về chất lượng kiến thức: ở bậc đại học không chỉ học sự kiện hay học hiện tượng, không chỉ học biết, học hiểu và vận dụng mà còn học phân tích, học tổng hợp, học đánh giá, học tư duy, và nhất là học phương pháp học tập để học biết được nhiều và có năng lực tự học suốt đời. Việc trang bị phương pháp học tập cho sinh viên khi mới vào năm thứ nhất ở bậc đại học thật là quan trọng, vai trò này không ai khác hơn là của nhà trường và trực tiếp là của Khoa quản lý sinh viên.

Sinh viên cần nắm vững kiến thức của hệ thống phương pháp học tập tích cực: Trong quá trình học tập, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết. Song điều quan trọng là sinh viên phải có hệ thống kỹ năng tự học.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo phương pháp tự học hiệu quả trong bài viết này.

Nguồn: Internet

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *